Luật Lao động Qatar: Phần 13-16 (tiếp theo và hết)

   
Cập nhật: 31/10/2013 09:58
Xem lịch sử tin bài

PHẦN 13: UỶ BAN HỖN HỢP, THƯƠNG LƯỢNG VÀ THOẢ ƯỚC TẬP THỂ

PHẦN 13: UỶ BAN HỖN HỢP, THƯƠNG LƯỢNG VÀ THOẢ ƯỚC TẬP THỂ



Điều 124:

Ở những hãng có 30 lao động làm việc trở lên có thể thành lập uỷ ban hỗn hợp đại diện cho chủ và người lao động.

Số lượng thành viên của uỷ ban này là 4 người, nếu số lao động của hãng là 200 hoặc ít hơn; là 6 người nếu số lao động hơn 200 nhưng ít hơn 500; là 8 người nếu số lao động nhiều hơn 500 người.

Một nửa số thành viên sẽ đại diện cho chủ và 1/2 khác sẽ đại diện cho người lao động.

Điều 125:

Chủ sẽ chỉ định trong số nhân viên hay người quản lý của mình là đại diện trong uỷ ban hỗn hợp.

Việc đề cử đại diện của người lao động trong uỷ ban này sẽ tiến hành như sau:

1.      Nếu tại hãng đó có tổ chức lao động như đã trình bầy ở trên thì công việc đề cử thành viên vào uỷ ban sẽ do  tổ chức này đảm nhiệm.

2.      Nếu tại hãng không có uỷ ban lao động thì người lao động sẽ đề cử người đại diện cho mình thông qua bầu trực tiếp.

Bộ trưởng sẽ quy định thể thức bầu cử.

Điều 126:

Uỷ ban hỗn hợp sẽ nghiên cứu và ra quyết định về các vấn đề liên quan đến lao động, đặc biệt là:

1-     Quy chế lao động.

2-     Biện pháp phát triển sản xuất và nâng cao năng suất lao động.

3-     Chương trình đào tạo lao động.

4-     Các biện pháp phòng ngừa tai nạn, rủi ro và hoàn  thiện các tiêu chuẩn về an toàn lao động và bệnh nghề nghiệp.

5-     Phát triển nếp sống văn hoá cho người lao động.

6-     Triển khai các dịch vụ xã hội trong hãng.

7-     Nghiên cứu các biện pháp để tiến hành hoà giải các tranh chấp cá nhân và tranh chấp tập thể.

Uỷ ban hỗn hợp đưa ra các khuyến cáo về những vấn đề này để chủ  xem xét thực hiện.

Điều 127:

Chủ và người lao động có quyền tiến hành các cuộc thương luợng tập thể và đưa ra các thoả thuận chung về mọi vấn đề liên quan đến lao động.

Bộ trưởng sẽ có văn bản quy định các thủ tục thương lượng tập thể và phương pháp đại diện của các bên cũng như nội dung, phạm vi và phương pháp tiến hành thương lượng.

 

PHẦN 14: TRANH CHẤP TẬP THỂ

 

Điều 128:

Tranh chấp lao động tập thể là sự tranh chấp giữa chủ với toàn thể hay một nhóm lao động hoặc là tranh chấp giữa một nhóm chủ với những người lao động của họ liên quan đến quyền lợi chung các bên trong  một hãng  hay trong một ngành.

Điều 129:

Bất cứ cuộc tranh chấp nào nẩy sinh giữa chủ và người lao động, các bên liên quan phải tìm mọi cách để hoà giải và nếu có Uỷ ban hỗn hợp tại đó thì công việc này giao cho Uỷ ban giải quyết.

Nếu các bên hoà giải không thành thì cần áp dụng các bước sau:

1)     Người lao động phải gửi khiếu nại bằng văn bản cho chủ đồng thời gửi 1 bản cho Cục.

2)     Chủ phải trả lời các khiếu nại đó trong vòng 1 tuần, kể từ khi nhận được khiếu nại và gửi cho Cục bản trả lời đó.

3)     Nếu trả lời của chủ không thoả mãn các khiếu nại đó thì Cục phải đứng ra làm trung gian hoà giải.

Điều 130:

Nếu sự trung gian của Cục không có kết quả trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được trả lời của chủ,  thì Cục phải chuyển vụ việc tranh chấp này đến Uỷ ban hoà giải để quyết định.

Uỷ ban hoà giải gồm có:

Một - Chủ tịch, do Bộ trưởng quyết định.

Hai - Thành viên do chủ đề cử.

Ba - Thành viên đại diện người lao động được đề cử theo khoản 2 Điều 127.

Ủy ban có thể được hỗ trợ bởi một số chuyên gia tư vấn trước khi quyết định một vấn đề. Uỷ ban phải ra quyết định về tranh chấp trong vòng 1 tuần kể từ khi nhận được báo cáo của Cục.

Nếu không đạt được thoả thuận với nhau thì tranh chấp này sẽ gửi đến Uỷ ban trọng tài trong vòng 15 ngày và quyết định của Uỷ ban trọng tài có hiệu lực thực hiện đối vơí cả 2 bên.

Điều 131:

Uỷ ban Trọng tài thành lập dưới sự chủ toạ của đại diện Toà án và các thành viên của:

1-     Đại diện của Bộ do Bộ trưởng chỉ định.

2-     Đại diện của Phòng Thương mại và Công nghiệp Qatar, do Chủ tịch Phòng chỉ định.

3-     Đại diện người lao động, do Tổng Liên đoàn lao động Qatar đề cử.

Điều 132:

Uỷ ban trọng tài sẽ xét xử các tranh chấp lao động tập thể và ra phán quyết trên cơ sở đa số. Ttrường hợp số phiếu ngang nhau thì Chủ tịch bỏ phiếu về bên nào thì bên đó chiếm ưu thế.

Trong khi thi hành công việc Uỷ ban phải nghiên cứu mọi hồ sơ giấy tờ và có quyền yêu cầu các bên cung cấp các chứng cứ, tài liệu cần thiết cũng như được vào các hãng để tiến hành điều tra.

Điều 133:

Chủ không được đóng cửa nơi làm việc khi đang tuyển dụng lao động hoăc ngừng công việc, hay từ chối tiếp tục tuyển dụng bất kỳ người lao động nào vì lý do tranh chấp, nếu không có quyết định của Uỷ ban hoà giải hoặc của Uỷ ban trọng tài.

Điều 134:

Bộ trưởng sẽ có văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ của Uỷ ban hoà giải và Uỷ ban trọng tài.

PHẦN 15: THANH TRA LAO ĐỘNG

Điều 135:            

Thành lập tại Cục một "cơ quan thanh tra lao động" nhằm giám sát việc thực thi các văn bản pháp luật liên quan đến việc bảo vệ người lao động và có mạng lưới thanh tra trong toàn quốc.

Cơ quan thanh tra có đủ số lượng các viên chức hành chính do Bộ trưởng quyết định. Các viên chức này gọi là thanh tra viên lao động. Ngoài ra, cơ quan này còn được hỗ trợ của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực chuyên môn được triệu tập khi cần thiết.

Điều 136:

Thanh tra viên lao động trước khi bắt đầu tiến hành phận sự của mình phải tuyên thệ trước Bộ trưởng về tôn trọng pháp luật và không được tiết lộ những bí mật và sáng chế, phát minh mà họ biết đựơc trong quá trình giám sát và điều tra các vụ việc, ngay cả khi không còn làm công việc này nữa.

Điều 137:

Thanh tra viên lao động do Tổng thanh tra nhà nước uỷ quyền sau khi có sự thoả thuận với Bộ trưởng, có quyền buộc những nhân viên thực thi pháp luật phải tôn trọng các điều khoản của luật này. Họ phải mang theo chứng minh thư để thể hiện thẩm quyền và phải xuất trình  khi tiến hành thanh tra.

Điều 138:

Thanh tra viên lao động có các quyền sau đây:

1-     Vào các nơi làm việc trong giờ làm việc hoặc buổi tối mà không cần phải thông báo trước để thanh tra sổ sách, giấy tờ và các tài liệu cần thiết liên quan đến người lao động cũng như thanh tra việc tuân thủ pháp luật và phát hiện những dấu  hiệu vi phạm pháp luật.

2-     Lấy các mẫu nguyên vật liệu sử dụng trong hãng,  thanh tra máy móc thiệt bị và các phương tiện bảo hộ an tòan lao động và thông báo cho chủ hay người đại diện về việc lấy các mẫu vật liệu để phục vụ mục đích thanh tra.

3-     Thanh tra chỗ ăn ở của người lao động để bảo đảm điều kiện vệ sinh, sức khoẻ cho người lao động.

4-     Thẩm vấn chủ họăc người đại diện cũng như người lao động về mọi vấn đề liên quan đến việc thực hiện luật này.

Điều 139:

Chủ hoặc người đại diện phải tạo điều kiện thuận lợi cho các thanh tra viên làm việc, phải cung cấp các thông tin chính xác về các vấn đề liên quan đến việc thực thi bổn phận của họ và phải có mặt khi được yêu cầu.

Điều 140:

Thanh tra viên lao động có nhiệm vụ sau đây:

1- Tư vấn cho chủ hay người đại diện các  biện pháp để ngăn ngừa các vi phạm.

2- Thông báo cho chủ các vụ việc vi phạm và yêu cầu thời hạn khắc phục.

3- Lập Báo cáo các vi phạm và chuyển đến Cục để có các biện pháp cần thiết.

Điều 141:

Bộ phải báo cáo công tác thanh  tra hàng năm liên quan đến việc thực thi luật này, đặc biệt là những vấn đề sau:

1)     Báo cáo về các điều khoản quy định việc thanh tra.

2)     Báo cáo số lượng  thanh tra viên.

3)     Báo cáo số lượng các đơn vị đã thanh tra, số lao động tại các đơn vị đó, số cuộc thanh tra đã tiến hành, số lượng các vi phạm đã phát hiện và các hình  thức xử phạt, số lượng lao động bị thương tật.

Bộ sẽ công bố báo cáo này dưới hình thức phù hợp.

Điều 142:

Bộ trưởng sẽ ban hành quyết định hướng dẫn việc thanh tra và Cục sẽ ban hành mẫu thanh tra, mẫu báo cáo vi phạm và mẫu sổ sách thanh tra.

 

PHẦN 16: XỬ PHẠT

Điều 143:

Các vi phạm nêu tại điều này sẽ bị xử phạt theo quy định của  luật lao động, trừ khi đã xử phạt theo các luật có liên quan khác và mức phạt sẽ tăng nặng tuỳ theo số người lao động bị vi phạm.

Điều 144:

Bất cứ ai vi phạm các khoản của Điều: 7,12,19,21,22,23,27,28,35 và khoản 2 của điều 139, điều 46,47,48,57,73,75,77,91,95,97,99,106,115,và 139 của luật này sẽ bị phạt tiền không dưới 2000 Ryal và không quá 5000 Ryal.

Điều 145:

Bất cứ ai vi phạm các khoản của Điều: 29, 33, 86, 87, 88, 89, 90, 93, 94, 103, 104, 105, 108, 122 và 123 của luật này sẽ bị phạt tù không quá 1 tháng và phạt tiền không dưới 2000 Ryal và không vượt quá 6000 Ryal hoặc áp dụng một trong hai hình phạt này.

Nếu vi phạm liên quan Đại lý việc tuyển mộ lao động nước ngoài cho bên thứ 3 thì toà án có thể bổ sung vào các hình phạt trên đây, ra lệnh đóng cửa văn phòng và huỷ giấy phép.

Điều 146:

Cá nhân, tổ chức nào khước từ  thực thi các phán quyết của Uỷ ban hoà giải hoặc Uỷ ban trọng tài sẽ bị phạt một khoản tiền không ít hơn 5000 Ryal và không vượt quá 10.000 Ryal./.

,
Scroll